Hát Then – đàn Tính, hồn cốt trong cuộc sống tinh thần của đồng bào người Tày vùng núi Bắc Bộ.
Hát Then là gì!
Hát Then là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc, gắn liền với đời sống văn hóa và tâm linh của các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở miền núi Bắc Bộ.
Đây là một hình thức diễn xướng âm nhạc kết hợp giữa hát, đàn tính và các điệu múa truyền thống.
Thường được biểu diễn trong các nghi lễ tôn giáo, lễ hội cộng đồng và các dịp quan trọng như cầu an, cầu mưa, hay chúc phúc.
Then chủ yếu có ở 11 tỉnh gồm: Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thái Nguyên, Điện Biên, Lai Châu và Lào Cai.
Hát then được UNESCO ghi danh vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
Tháng 9/2013, tại tỉnh Tuyên Quang đã diễn ra lễ đón Bằng ghi danh “Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, do tổ chức UNESCO công nhận.

Nội dung của Hát Then
Hát Then thường kể lại những câu chuyện thần thoại, truyền thuyết về sự ra đời của thế giới, các vị thần, hoặc mô tả hành trình của những người thầy mo, thầy cúng trong việc kết nối con người với các đấng siêu nhiên.
Ngoài ra, Hát Then còn phản ánh chuyện từ đời sống, bản mường, đến chuyện tình yêu, ma chay, cưới hỏi…
Khi nghiên cứu các lễ Then cổ truyền, các nhà nghiên cứu thấy rõ nhân sinh quan, thế giới quan và bản sắc văn hóa của đồng bào Tày, Nùng, Thái.
Lời bài Hát Then
Những ca từ của bài Hát Then được chắt lọc, mài dũa từ những câu chữ dân gian. Vừa là câu thơ trữ tình da diết về tình yêu đôi lứa, vừa là lời khuyên răn khích lệ, vừa là những kinh nghiệm đối nhân xử thế,…
Một lời bài hát Then của người Tày
Lời bài hát Then theo ngôn ngữ đồng bào Tày
Khảm khắc roọng đông luông tiểng xót.
Tiểng puồn đuổi mỉnh nguộc vằn xưa.
Rụ thức xa cười chua tẻo vẳng.
Chang cừn tốc muôi nặm pỉ puồn.
Vằn vằn nòn nưa chương vèn vẹn.
Điếp pậu bấu rụ hẹn cần hâư.
Nặc nặc điếp đâng châư là dú.
Khẩu nặm pỉ bấu chứ rụ kin.
Cừn vằn điếp thần xinh chỏi chỏi.
Bjóc phung bjóc tẻ lởi tả lồm.
Mật mèng xa bấu hăn mền roọng.
Mật chứ thâng bạn bỏng hư không.
Hăn mèng bấu hăn cần xạm đát.
Chang cừn tông bỏng nguyệt bấu lìa.
Tông nguyệt nguyệt dú slung quảng hán.
Tông lồm lồm vợt ngản quả ưa.
Tông bạn bạn tẻ mừa đuổi mả.
Thân pỉ hác vọng chạ đuổi đai.
Bặng pên đao vạng lai nưa phạ
Hai xinh lộn khảu phạ mừa tây.
( Trích Phong slư Đông thiên chài phác nhình ).
Đoạn dịch sang ngôn ngữ phổ thông
Tiếng khảm khắc rừng xanh khắc khoải.
Tiếng kêu buồn những nỗi ngày qua.
Tỉnh dậy tìm người xưa lại vắng.
Đêm khuya sương rơi nặng anh buồn.
Đêm ngày nằm trên giường cô tịch.
Nhớ bạn không biết hẹn cùng ai.
Chỉ một nỗi nhớ nhau ngay ngáy.
Những lúc buồn quên khuấy cả ăn.
Đêm ngày nhớ một mình em đấy.
Hoa rụng hoa bỏ mặc gió đưa.
Ong bướm không thấy thì kêu thảm.
Mỗi lúc nghĩ tới bạn mỗi mong.
Thấy ong hoa ,người thân không thấy.
Canh khuya ngắm trăng mãi không rời.
Trông trăng , trăng trên trời xa lắc.
Trông gió , gió vượt núi mà đi.
Mong em , em lại về chốn mới.
Một thân anh nghĩ ngợi lại buồn.
Giống như sao vãng lai trên trời .
Trăng lẩn mây vội vã về tây. )
Nhạc cụ biểu diễn Hát Then
Hát Then thường kết hợp với các nhạc cụ như: Đàn Tính, chùm sóc nhạc, quạt. Đặc biệt, đàn tính là nhạc cụ quan trọng nhất thể hiện hồn cốt của Hát Then
Khi nào Hát Then?
Trong đời sống của người Tày, Nùng, Thái cổ xưa, hát then thường được xuất hiện trong những sự kiện trọng đại như: Lễ cầu an, cầu mùa…

Người hát then trong những dịp lễ, tết là người đại diện cho cộng đồng giao tiếp với thần linh, cầu cho mùa màng tươi tốt, bội thu, đời sống ấm no, hạnh phúc.
Ngày nay Hát Then được đồng bào các dân tộc tại đây biểu diễn trong những dịp quan trọng như hội làng, cưới hỏi, các hội thi, giao lưu văn hoá, lễ Tết.
Âm điệu Hát Then
Âm điệu của hát Then sâu lắng, mượt mà, với âm thanh chính từ đàn tính – một nhạc cụ truyền thống có ba dây, tạo nên sự độc đáo và hấp dẫn của loại hình nghệ thuật này.
Ý nghĩa Hát Then
Hát Then không chỉ là một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc mà còn mang trong mình nhiều ý nghĩa sâu sắc về văn hóa, tâm linh và cộng đồng.
Việc UNESCO công nhận hát Then là Di sản Văn hóa Phi vật thể của Nhân loại là sự khẳng định giá trị to lớn của loại hình nghệ thuật này.
Nó không chỉ là niềm tự hào của các dân tộc Tày, Nùng, Thái mà còn là một phần quan trọng trong di sản văn hóa phong phú của Việt Nam;không chỉ là một biểu tượng văn hóa của các dân tộc vùng cao mà còn là một phần quan trọng của di sản văn hóa chung của nhân loại.
Cuối cùng
Nghệ thuật hát Then – đàn Tính mang nét độc đáo, khác biệt và có sức truyền cảm lạ lẫm, nên được lưu truyền, bảo tồn rộng rãi trong dân gian.
Hiện trở thành một sản phẩm độc đáo góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội, phát triển du lịch tại địa phương.


